Go to Top
Trang chủ > Tin tức > Nhìn lại kinh tế vĩ mô sáu tháng đầu năm 2014

Nhìn lại kinh tế vĩ mô sáu tháng đầu năm 2014

Tín hiệu phục hồi rõ rệt của các chỉ số kinh tế vĩ mô trong những tháng đầu năm xét về lý thuyết sẽ là những tiền đề thuận lợi và rất có tính thuyết phục cho việc hoàn thành các chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế -xã hội 2014. Tuy vậy, vẫn có những mảng xám cần điều chỉnh.

Tạo dựng lòng tin vào nền kinh tế Việt Nam mới là điều quyết định quan trọng nhất cho phát triển kinh tế trong năm nay và những năm tới

Mặc dù vẫn còn nhiều khó khăn, nhưng phân tích kỹ các yếu tố cơ bản của GDP có thể thấy rằng xu hướng phục hồi đã khá rõ nét. Trong 6 tháng đầu năm 2014, các yếu tố tiêu dùng, đầu tư và xuất khẩu tuy chưa đạt mức tăng trưởng cao, nhưng mức tăng của quý sau đã cao hơn quý trước. Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, trong mức tăng 5,18% của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,96%, cao hơn mức 2,07% của cùng kỳ năm 2013; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,33%, cao hơn mức 5,18% của 6 tháng đầu năm 2013; khu vực dịch vụ tăng 6,01%, cao hơn mức 5,92% của cùng kỳ năm 2013. Đây là những dấu hiệu tích cực, toàn diện về tăng trưởng của nền kinh tế.

Không chỉ là… tín hiệu vui

Những ổn định của kinh tế Việt Nam bao gồm hai nhóm.

Nhóm thứ nhất là về lạm phát, trong 6 tháng qua, lạm phát tương đối thấp. Đây là một trong những chỉ số quan trọng để đánh giá sự ổn định của kinh tế vĩ mô, bên cạnh một loạt chỉ số khác. Theo một nghĩa nào đó, kéo được lạm phát từ mức 20% xuống đến mức hiện nay là khoảng 5% tính theo năm cũng được coi là một thành tích của Việt Nam. Tuy nhiên, phân tích kỹ hơn về chỉ số này, chúng ta cần phải quan tâm tới hai vấn đề. Thứ nhất, trong những điều kiện bình thường, duy trì được mức lạm phát 5-6% trong thời gian dài là một điều rất tốt. Tuy nhiên, trong điều kiện xử lý câu chuyện bất ổn và kéo nó về ổn định đòi hỏi vấn đề điều hành làm sao để kinh tế dần trở về ổn định, nhưng chi phí sản xuất kinh doanh, tăng trưởng kinh tế không hạ quá nhanh. Ý đồ của Chính phủ đó là có một sự “hạ cánh” mềm mại hơn, nhưng trên thực tế do có rất nhiều biến động từ năm 2011 khi bắt đầu thực hiện chương trình ổn định kinh tế dẫn đến việc hạ cánh của nền kinh tế trong chừng mực hơi cứng một chút. Nghĩa là khi chúng ta ổn định trong điều kiện bất ổn thì chúng ta phải trả giá, nhưng có lẽ nếu chúng ta làm tốt hơn thì cái giá phải trả là tốt hơn. Chính vì vậy, có người nói vui là có lẽ lạm phát xuống hơi nhanh quá.

Nhóm thứ hai, liên quan đến sản xuất kinh doanh, có hai biểu hiện thể hiện sự phục hồi rõ nét. Chỉ số đo sản xuất công nghiệp chế biến (PMR), từ tháng 9/2013 đến nay, đều trên 50 điểm, thể hiện dấu hiệu tích cực. Khác với năm ngoái, thu ngân sách 6 tháng qua đã đạt được mức cao so với dự toán năm.

Tại phiên họp Chính phủ về tình hình kinh tế – xã hội 6 tháng đầu năm, Chính phủ đã thể hiện quyết tâm giữ nguyên các chỉ tiêu kinh tế cơ bản mà Quốc hội đã thông qua với con số tăng trưởng năm nay đạt mục tiêu là 5,8%, lạm phát dưới 7%. Và cho tới nay, có thể thấy rõ mục tiêu lạm phát chúng ta hoàn toàn có thể đạt được, thậm chí lạm phát năm nay có thể kỳ vọng đạt mức 5-6%. Đối với tăng trưởng, theo dự báo mới nhất của Ngân hàng thế giới trong tháng 6 này cho thấy, tăng trưởng Việt Nam sẽ ở vào khoảng 5,5%. Theo dự báo mới nhất mà Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia vừa đưa ra có tính đến các tác động có thể có ở mức độ nào đó trong quan hệ kinh tế Việt Nam – Trung Quốc thì tăng trưởng sẽ ở khoảng 5,6%.

Thế nhưng, quan điểm của tôi lại khác, vì ngay cả khi không có yếu tố tác động từ sự kiện biển Đông, việc đạt được mục tiêu tăng trưởng 5,8% là không dễ dàng do những khó khăn và hạn chế về mặt chính sách. Nghị quyết 11 của Chính phủ là một bước ngoặt trong điều hành của Chính phủ Việt Nam. Việt Nam không thể đánh đổi tăng trưởng lấy bất ổn kinh tế vĩ mô. Nhưng cách điều hành cụ thể thì chưa thật tốt; cụ thể là đã có lúc “thắt” hơi quá mạnh. Tỷ lệ tăng tín dụng đang từ 30%/năm, mục tiêu là hạ từ từ xuống trên dưới 20% rồi 15% nhưng thực tế năm ngoái đã rơi thẳng xuống 10% và năm nay, 5 tháng mới được 1,3%, trong khi mục tiêu đặt ra là 12% – 14%. Có lẽ, khi bắt đầu thực hiện “thắt chặt”, chúng ta chưa lường hết được tác động của chính sách này khi cộng hưởng với những rủi ro của hệ thống ngân hàng, tín dụng. Tương tự, chỉ số đầu tư xã hội nói chung và đầu tư công cũng giảm mạnh hơn mong đợi.

Và nếu nói rằng, trong 6 tháng đầu năm 2014, chúng ta đã rất thành công trong thu hút FDI, điều đó chỉ đúng một nửa, bởi lẽ, môi trường kinh doanh của Việt Nam trong con mắt các nhà đầu tư nước ngoài gần đây không có nhiều chuyển biến đáng kể… Hơn nữa, Việt Nam không phải là điểm lựa chọn duy nhất của nhà đầu tư nước ngoài trong thời điểm này.

Giải pháp phải bắt nguồn từ cơ hội thực tế

Phải nói chắc chắn rằng, sự ổn định của nền kinh tế trong năm qua một phần là nhờ các giải pháp quyết liệt, dứt khoát, hợp lý và nhất quán của Chính phủ trong điều hành chính sách. Tuy nhiên, cũng cần phải nói rằng sự ổn định này còn được hỗ trợ một phần, do sức cầu của nền kinh tế suy yếu. Phân tích trên cho thấy, những mục tiêu mà chúng ta đề ra là khá tham vọng, không thể làm “một cú ăn 4”: ổn định vĩ mô, phục hồi kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, cải cách thể chế… trong lúc nguồn lực của chúng ta còn hạn chế.

Theo đó thứ hạng đầu tiên là chúng ta cần đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ để tiếp tục duy trì mức lạm phát hợp lý nhưng vẫn bảo đảm mục tiêu đầu tư của Chính phủ từ nguồn trái phiếu trên cơ sở tăng cường quản lý đầu tư công. Song song với việc tập trung đẩy mạnh xử lý và thu hồi nợ, cần phát triển tín dụng trong sự kiểm soát chất lượng để ngăn nợ xấu.Cho nên, vấn đề là tuy muốn cả 4, nhưng cần đặt ra những mức độ và ưu tiên khác nhau trong từng giai đoạn khác nhau. Chính phủ tìm đúng “chốt”, và phân hạng thứ tự của từng “chốt” để thực hiện. Không nên vì quá nóng vội mục tiêu này mà đẩy nó lên không đúng thứ hạng, như vậy vô hình trung, chúng ta đang phá bỏ công sức bấy lâu gây dựng.

Thứ hai, nâng cao hiệu quả đầu tư bằng cách tập trung vốn cho các công trình mang tính cấp bách, thiết thực hơn cho những đối tượng được hưởng lợi. Các ngành, địa phương cần tránh việc xây dựng mang tính tự phát. Chú trọng nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ cơ sở và người lao động để có năng lực sử dụng nguồn vốn đúng mục đích. Bảo đảm tính công khai, dân chủ, minh bạch về tài chính trong hoạt động đầu tư.

Thứ ba, tiếp tục tập trung phát triển sản xuất công nghiệp theo chiều sâu để từng bước tạo ra những sản phẩm có thương hiệu quốc gia và có sức cạnh tranh trong chuỗi giá trị toàn cầu. Đẩy mạnh thu hút đầu tư phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ, đáp ứng nguyên liệu đầu vào, từ đó giảm nhập khẩu. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cần đổi mới công nghệ sản xuất và công nghệ quản lý, tăng tính chủ động trong nâng cao năng lực quản trị, năng lực cạnh tranh cũng như năng lực tiếp cận và mở rộng thị trường, đồng thời có chiến lược kinh doanh phù hợp với tình hình mới, có phương án sản xuất khả thi cho từng mặt hàng.

Thứ tư, mở rộng thị trường XNK hàng hóa theo hướng đa dạng, gồm cả thị trường lớn, thị trường truyền thống và thị trường tiềm năng để giảm dần sự lệ thuộc vào một đối tác. Tích cực tiến hành các hoạt động xúc tiến thương mại và khai thác cơ hội mở cửa thị trường từ cam kết hội nhập kinh tế, quốc tế, đẩy mạnh xuất khẩu vào các thị trường lớn.

Thứ năm, cần tập trung phát triển công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh trên thị trường, đáp ứng nhu cầu ngày một đa dạng của người tiêu dùng, đặc biệt đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn hàng hóa xuất khẩu. Từng bước xây dựng thương hiệu cho nông sản Việt Nam để nâng cao vị thế của nông sản trên trường quốc tế.

TS Võ Trí Thành
Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu kinh tế Trung ương