Go to Top
Trang chủ > Tin tức > Toàn cảnh Động thái Doanh nghiệp Việt Nam 6 tháng đầu năm 2014

Toàn cảnh Động thái Doanh nghiệp Việt Nam 6 tháng đầu năm 2014

Báo cáo khảo sát Động thái Doanh nghiệp Việt Nam (VBiS) 6 tháng đầu năm 2014 vừa được Viện Phát triển Doanh nghiệp (VCCI) công bố, tập trung phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong nửa đầu của năm cũng như những dự báo cho 6 tháng cuối năm.

Đánh giá chung của khảo sát

Nhìn chung, nhiều yếu tố của tình hình sản xuất kinh doanh (SX-KD) 6 tháng đầu năm 2014 được các doanh nghiệp cảm nhận là tốt hơn so 6 tháng cuối năm 2013, mặc dù vẫn còn tồn tại một số yếu tố chưa được cải thiện.

Tổng thể điều kiện sản xuất kinh năm 6 tháng đầu năm 2014 tốt hơn so với 6 tháng cuối năm 2013 và các điều kiện này được dự cảm sẽ tiếp tục tốt hơn vào 6 tháng cuối năm 2014.

Có sự cải thiện của chỉ số tổng thể môi trường pháp lý và kinh tế vĩ mô trong 6 tháng đầu năm 2014. Đây là kết quả tổng hợp từ sự cải thiện của từng yếu tố thành phần như: chất lượng của các quy định pháp lý, hiệu lực thực thi chính sách, thủ tục hành chính liên quan tới doanh nghiệp, sự cải thiện trong thái độ và ý thức trách nhiệm của các bộ công quyền, sự ổn định của môi trường pháp lý và điều hành kinh tế.

Dưới đây là kết quả chi tiết của cuộc khảo sát, được VCCI thực hiện vào cuối tháng 4 và đầu tháng 5/2014, trước khi xảy ra tình hình căng thẳng trên Biển Đông.

Đánh giá chung tình hình 6 tháng đầu năm 2014

Chỉ số động thái (CSĐT) được tính bằng cách lấy tỷ lệ doanh nghiệp có đánh giá (cảm nhận) “tình hình tốt lên” trừ đi tỷ lệ doanh nghiệp có đánh giá (cảm nhận) “tình hình xấu đi”. Chỉ số dương phản ánh xu thế được cải thiện, chỉ số âm cho thấy tình hình xấu đi, chỉ số bằng không thể hiện tình hình không thay đổi.

CSĐT thực thấy trong 6 tháng đầu năm vẫn còn ở mức âm (-5 điểm), nhưng đã cải thiện hơn nhiều so với năm 2013 (-21 điểm).

Điều đó góp phần giúp Chỉ số động thái tổng hợp của tổng thể tình hình sản xuất kinh đạt 3 điểm, thể hiện xu thế tốt lên. Trong đó, mức độ cải thiện thể hiện chủ yếu ở năng suất lao động (17 điểm), tổng doanh số (16 điểm), lượng đơn đặt hàng (14 điểm) và hiệu suất sử dụng máy móc (12 điểm).

Tất cả các CSĐT thực thấy của 6 tháng đầu năm 2014 đều cải thiện so với năm 2013. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp dự đoán 6 tháng cuối năm 2014 sẽ tốt hơn 6 tháng đầu năm 2014, với việc các doanh nghiệp dự đoán yếu tố lợi nhuận sẽ được cải thiện. Từ khi khảo sát VBiS bắt đầu thực hiện vào năm 2010, đây là lần đầu tiên yếu tố về lợi nhuận được doanh nghiệp dự cảm tốt lên (+ 3 điểm), một tín hiệu thể hiện chuyển biến tốt trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp.

Xét từ năm 2010 đến nay,CSĐT thực thấy của tình hình SX-KD cho thấy tất cả các yếu tố đã cải thiện đáng kể trong 6 tháng đầu năm 2014.

Đánh giá về điều kiện SX-KD 6 tháng đầu năm 2014

Chỉ số động thái tổng hợp của tình hình sản xuất kinh doanh có xu thế cải thiện, được thể hiện ở việc CSĐT tổng hợp đạt +18 điểm. Đây là kết quả tích hợp của CSĐT thực thấy (đạt +12 điểm) và CSĐT dự cảm (đạt +24 điểm). Như vậy, tổng thể điều kiện sản xuất kinh năm 6 tháng đầu năm 2014 tốt hơn so với 6 tháng cuối năm 2013 và các điều kiện này được dự cảm sẽ tiếp tục tốt hơn vào 6 tháng cuối năm 2014.

CSĐT thực thấy của các yếu tố phản ánh điều kiện kinh doanh đều mang giá trị dương, cho thấy sự cải thiện của các điều kiện SX-KD trong 6 tháng đầu năm 2014 đến 6 tháng cuối năm 2013. Một số yếu tố có mức cải thiện nổi trội là: điều kiện tiếp cận thông tin về thị trường và công nghệ hoặc điều kiện hạ tầng tiện ích. Nhu cầu thị trường trong nước có được cải thiện nhưng không đáng kể.

CSĐT dự cảm của các điều kiện SX-KD cũng đều tốt lên. Một điều đáng lưu ý giá thành sản xuất 6 tháng đầu năm 2014 cao hơn so với giá thành 6 tháng cuối năm 2013 nhưng các doanh nghiệp dự đoán yếu tố này sẽ giảm đi vào 6 tháng cuối năm 2014. Như vậy, tất cả các yếu tố tác động đến tình hình sản xuất kinh doanh đều được các doanh nghiệp dự cảm sẽ được cải thiện vào 6 tháng cuối năm 2014.

Xét từ năm 2010 đến nay,CSĐT thực thấy về các điều kiện SX-KD cho thấy các yếu tố đều có số điểm dương trong 6 tháng đầu năm 2014.

Đánh giá về điều hành chính sách vĩ mô

Các doanh nghiệp đánh giá về tổng thể môi trường chính sách và điều hành vĩ mô 6 tháng đầu năm 2014 cải thiện hơn so với 6 tháng cuối năm 2013.

Hình trên cho thấy sự cải thiện của chỉ số tổng thể môi trường pháp lý và kinh tế vĩ mô trong 6 tháng đầu năm 2014. Đây là kết quả tổng hợp từ sự cải thiện của từng yếu tố thành phần như: chất lượng của các quy định pháp lý, hiệu lực thực thi chính sách, thủ tục hành chính liên quan tới doanh nghiệp, sự cải thiện trong thái độ và ý thức trách nhiệm của các bộ công quyền, sự ổn định của môi trường pháp lý và điều hành kinh tế. Trong đó, thái độ ý thức và trách nhiệm của các cán bộ công quyền được cải thiện nhiều nhất. Mức độ cải thiện của các thủ tục thuế và hải quan cũng rất lớn.

CSĐT thực thấy của tổng thể môi trường pháp lý và kinh tế vĩ mô cho thấy mức độ cải thiện của năm 2013 là nhiều nhất, có thể là do năm 2013 Chính phủ đã ban hành rất nhiều chính sách và giải pháp nhằm hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua khó khăn. Một số chính sách được doanh nghiệp đánh giá có hiệu quả cao là các chính sách liên quan đến miễn, giảm và giãn thuế TNDN và thuế GTGT. Đồng thời, Chính phủ cũng có nhiều biện pháp nhằm ổn định kinh tế vĩ mô.

Đánh giá về tính hiệu quả của các chính sách, chương trình và chiến lược của Chính phủ

Phần lớn doanh nghiệp cho rằng các chính sách và giải pháp này có hiệu quả bình thường. Tỷ lệ doanh nghiệp đánh giá các giải pháp và chính sách này có hiệu quả bình thường lên tới gần 60%. Tỷ lệ doanh nghiệp đánh giá các giải pháp này có “hiệu quả và rất hiệu quả” cao hơn hơn so với tỷ lệ doanh nghiệp đánh giá ” không hiệu quả và rất không hiệu quả”.

Trong các giải pháp và chính sách này, chính sách giảm lãi suất tín dụng có tỷ lệ cao doanh nghiệp đánh giá “có hiệu quả và rất hiệu quả”. Điều này chứng tỏ việc giảm lãi suất đã có tác động tích cực đến doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp tiếp cận vốn vay dễ dàng hơn vì được vay với mức lãi suất mà doanh nghiệp có thể hấp thụ được.

Đánh giá về mức độ hỗ trợ của Luật thuế TNDN có hiệu lực từ ngày 01/01/2014, hầu hết các doanh nghiệp trả lời khảo sát cho rằng hiệu quả của các chính sách và giải pháp này hỗ trợ doanh nghiệp ở mức bình thường.

Có khoảng 20% doanh nghiệp cho rằng những thay đổi này hỗ trợ rất ít hoặc không hỗ trợ gì bởi vì nhìn chung các doanh nghiệp còn đang gặp khó khăn nên lợi ích từ việc giảm thuế suất thuế TNDN còn chưa cao.

Đánh giá về một số điều sửa đổi trong luật thuế GTGT, khoảng 55% doanh nghiệp trả lời cho rằng các giải pháp này hỗ trợ tích cực cho doanh nghiệp, khoảng 28% cho rằng có hỗ trợ tích cực và rất tích cực và có khoảng 15% cho rằng các biện pháp này hỗ trợ rất ít và không có hỗ trợ gì.

Đánh giá của doanh nghiệp về Luật doanh nghiệp

Về hạn chế lớn nhất của Luật doanh nghiệp năm 2005, 32,7% doanh nghiệp cho rằng vẫn tồn tại sự không tương thích giữa Luật doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành, 23,2% doanh nghiệp cho rằng chưa bao quát vấn đề mới phát sinh từ thực tiễn cho là cần thiết phải thuộc phạm vi điều chỉnh Luật doanh nghiệp, 20,8% chưa đủ rõ ràng và cụ thể dẫn đến cách hiểu và áp dụng khác nhau trên thực tế tạo ra sự thiếu nhất quán và công bằng khi áp dụng, 14,5% doanh nghiệp cho rằng chưa hợp lý hoặc không còn phù hợp với thực tiễn hoặc đã chứng tỏ thiếu tính khả thi gây cản trở và làm tăng thêm chi phí tuân thủ đối với các nhà đầu tư, chỉ có 8,9% doanh nghiệp cho rằng Luật chưa tương thích với các thông lệ quốc tế, chưa phù hợp với yêu cầu và cam kết hội nhập quốc tế.

Hình trên cho thấy các quy định về chia tách, hợp nhất và sáp nhập trong luật doanh nghiệp bị nhiều doanh nghiệp phản ánh còn bất cập và gây khó khăn lớn nhất cho doanh nghiệp, tiếp đến là thủ tục giải thể doanh nghiệp.

Khi được hỏi doanh nghiệp quan tâm đến Dự thảo Luật và Luật nào nhất, 53,8% doanh nghiệp trả lời là Dự thảo Luật doanh nghiệp sửa đổi. Các dự thảo Luật đầu tư sửa đổi, Luật bảo hiểm xã hội, Ký kết hợp tác xuyên Thái Bình Dương TPP và Ký kết Hiệp định thương mại tự do ASEAN-EU được khoảng 9% doanh nghiệp quan tâm.

Có khoảng 68,3% doanh nghiệp sẵn sàng tham gia xây dựng Dự thảo Luật mà họ quân tâm. Điều này thể hiện ý thức của doanh nghiệp trong việc xây dựng hoàn thiện các điều luật để các điều luật ban hành sát với thực tiến hơn.

Đánh giá tác động việc ký kết TPP

Phần lớn các doanh nghiệp cho rằng ký kết Hiệp định đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) sẽ hỗ trợ tích cực các doanh nghiệp mở rộng thị trường xuất khẩu, tiếp cận được các thị trường lớn, được mua nguyên vật liệu từ các nước ký kết TPP với mức chi phí thấp và tăng cường khả năng cạnh tranh. Tuy nhiên, các doanh nghiệp cho rằng TPP chỉ hỗ trợ các doanh nghiệp có cơ hội tham gia đấu thầu minh bạch và công khai khi mở cửa thị trường mua sắm công ở mức bình thường.

Đánh giá về mô hình đối tác công tư

Các doanh nghiệp đánh giá tương đối cao hiệu quả của các mô hình đối tác công tư. Điều này được chứng minh bằng tỷ lệ doanh nghiệp đánh giá các hình thức này “Hiệu quả” và “ Rất hiệu quả” cao hơn tỷ lệ doanh nghiệp đánh giá “Rất không hiệu quả” và “Không hiệu quả “. Đáng lưu ý là hình thức Xây dựng – Vận hành- Chuyển giao (BOT) có tỷ lệ doanh nghiệp đánh giá có “Hiệu quả” cao hơn các hình thức khác.

Đánh giá về mức độ hoàn thành kế hoạch 5 tháng đầu năm 2014

Đối với kế hoạch doanh thu 5 tháng đầu năm 2014,21,6% doanh nghiệp hoàn thành kế hoạch, 27,9% doanh nghiệp đạt trên 90% kế hoạch, 16,4% doanh nghiệp đạt trên 70% kế hoạch và có 34,1% doanh nghiệp đạt dưới 70% kế hoạch.

Đối với kế hoạch thị trường, 16,2% doanh nghiệp hoàn thành kế hoạch, 28,8% doanh nghiệp đạt trên 90% kế hoạch, 18% doanh nghiệp đạt trên 70% kế hoạch và có 37% doanh nghiệp đạt dưới 70% kế hoạch.

Đối với kế hoạch lợi nhuận, 14,5% doanh nghiệp hoàn thành kế hoạch, 29% doanh nghiệp đạt trên 90% kế hoạch, 22,4% doanh nghiệp đạt trên 70% kế hoạch và có 33,2% doanh nghiệp đạt dưới 70% kế hoạch.

Đánh giá về trạng thái hoạt động của doanh nghiệp

Trong 5 tháng đầu năm 2014, có khoảng 4,2% doanh nghiệp trả lời khảo sát phải tạm thời ngừng hoạt động. Thời gian ngừng hoạt động trung bình là 1,5 tháng, doanh nghiệp có thời gian ngừng hoạt động ngắn nhất là 0,5 tháng và dài nhất là 4 tháng.

Doanh nghiệp phải ngừng hoạt động trong thời gian qua do không tìm được thị trường đầu ra chiểm tỷ lệ cao nhất (50%). Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến doanh nghiệp phải ngừng hoạt động lâu nhât (4 tháng). Điều này chứng tỏ làm thế nào để tiêu thụ được sản phẩm vẫn đang là một thách thức rất lớn cho doanh nghiệp.

Đánh giá về vấn đề chuyển giá

Theo kết khảo sát, 56% doanh nghiệp cho rằng các doanh nghiệp FDI thường sử dụng hình thức chuyển giá bằng cách mua nguyên vật liệu đầu vào sản suất của công ty mẹ với giá cao và bán sản phẩm cho công ty mẹ với giá thấp so với giá thực tế. Điều này sẽ dẫn đến lỗ ở công ty con và lãi ở công ty mẹ để lách thuế vì thuế suất thuế TNDN ở quốc gia công ty mẹ đặt trụ sở thấp hơn ở Việt Nam.

Theo ý kiến của doanh nghiệp, chính phủ nên hoàn thiện các quy định pháp luật để tránh lỗ hổng chuyển giá (chiếm 48%), tiếp đến là giảm thuế suất thuế TNDN (chiếm 26%) và tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra chiếm 7%.

 

Trung Nghĩa – Người Đồng Hành